Blue ocean

Gửi câu hỏi trực tuyến

Họ tên
Điện thoại
Email
Câu hỏi

Không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất yêu cầu chia thừa kế được không?

31/08/2021 17:00

Quyền thừa kế của mỗi cá nhân được pháp luật thừa nhận. Cá nhân được hưởng quyền thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật. Và quyền đó được pháp luật bảo vệ một cách tuyệt đối nếu đáp ứng đủ những điều kiện theo luật định. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp di sản tài bất động sản chưa được cấp giấy chứng nhận, vậy bất động sản đó có được đem ra chia di sản thừa kế theo pháp luật Việt Nam không? Hãy cùng Luật Đại An Phát tìm hiểu trường hợp Không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có yêu cầu được chia thừa kế được không?

I. Căn cứ pháp lý
  • Bộ luật dân sự 2015
  • Luật Đất đai 2013
  • Nghị định 43/2014/NĐ-CP
  • Nghị định 01/2017/NĐ-CP
  • Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP
  • Thông tư 30/2014/TT-BTNMT
  • Thông tư 34/2014/TT-BTNMT
II. Nội dung tư vấn
II.1. Quyền được hưởng thừa kế
Điều kiện 1: Về người thừa kế
Một người sẽ được quyền thừa kế tài sản của người khác để lại khi họ phải đảm bảo các điều kiện nhất định. Căn cứ vào Bộ Luật dân 2015 các điều kiện đó được thể hiện như sau:
      Thứ nhất, cá nhân có quyền thừa kế khi thuộc hàng thừa kế của người chết hoặc có tên trong danh sách những người thừa kế theo di chúc .
     Thứ hai, Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
      Thứ ba, người thuộc hàng thừa kế không rơi vào các trường hợp không được quyền hưởng di sản như sau: ( trừ trường hợp là người lập di chúc biết về hành vi của họ nhưng vẫn để lại tài sản cho những người này thông qua di chúc)
  • Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

  • Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

  • Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

  • Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

Điều kiện 2: Người chết có để lại di sản cho những người thừa kế
     Việc chia thừa kế theo di chúc hay pháp luật phải phụ thuộc vào việc người chết có để lại di sản thừa kế hay không. Nếu như người chết không có di sản để lại thì người thừa kế sẽ không có tài sản để chia theo pháp luật hoặc theo di chúc. Hay nói cách khác di sản là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của người đó trước khi chết đây có thể là tài sản riêng của người chết hoặc phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác. Nếu di sản là tài sản đang có tranh chấp với bên thứ ba về quyền sở hữu tài sản thì phải có căn cứ xác định di sản là tài sản hợp pháp của người chết thì mới được chia tức là khi đã giải quyết xong tranh chấp này sau đó mới có thể tiếp tục yêu cầu chia thừa kế.
Như vậy, phải đảm bảo cả hai điều kiện trên thì người thừa kế mới được quyền chia di sản thừa kế của người chết để lại.

II.2. Xác định quyền sử dụng đất là di sản thừa kế

     Việc xác định quyền sử dụng đất chưa được cấp Giấy chứng nhận có được coi là di sản hay không thì căn cứ Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao xác định như sau:

Trường hợp 1: Đối với đất do người chết để lại (không phân biệt có tài sản hay không có tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất) mà người đó đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 thì quyền sử dụng đất đó là di sản.
Trường hợp 2: Đối với trường hợp đất do người chết để lại mà người đó có một trong các loại giấy quy định tại các Khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003, thì kể từ ngày 01/7/2004 quyền sử dụng đất đó cũng là di sản, không phụ thuộc vào thời điểm mở thừa kế.
Trường hợp 3: Trường hợp người chết để lại quyền sử dụng đất mà đất đó không có một trong các loại giấy tờ được hướng dẫn tại trường hợp 1 và trường hợp 2, nhưng có di sản là nhà ở, vật kiến trúc khác (như: nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh, giếng nước, nhà để ô tô, nhà thờ, tường xây làm hàng rào gắn với nhà ở, các công trình xây dựng trên đất được giao để sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh như nhà xưởng, kho tàng, hệ thống tưới, tiêu nước, chuồng trại chăn nuôi hay vật kiến trúc khác hoặc trên đất có các tài sản khác như cây lấy gỗ, cây lấy lá, cây ăn quả, cây công nghiệp hay các cây lâu năm khác) gắn liền với quyền sử dụng đất đó mà có yêu cầu chia di sản thừa kế, thì cần phân biệt các trường hợp sau:
  • Trong trường hợp đương sự có văn bản của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền xác nhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp, nhưng chưa kịp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì Toà án giải quyết yêu cầu chia di sản là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất và quyền sử dụng đất đó.

  • Trong trường hợp đương sự không có văn bản của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền xác nhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp, nhưng có văn bản của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền cho biết rõ là việc sử dụng đất đó không vi phạm quy hoạch và có thể được xem xét để giao quyền sử dụng đất, thì Toà án giải quyết yêu cầu chia di sản là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất. Đồng thời phải xác định ranh giới, tạm giao quyền sử dụng đất đó cho đương sự để Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền tiến hành các thủ tục giao quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đương sự theo quy định của pháp luật về đất đai.

  • Trong trường hợp Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền có văn bản cho biết rõ việc sử dụng đất đó là không hợp pháp, di sản là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất không được phép tồn tại trên đất đó, thì Toà án chỉ giải quyết tranh chấp về di sản là tài sản trên đất đó.

Trường hợp 4: Trường hợp người chết để lại quyền sử dụng đất mà đất đó không có một trong các loại giấy tờ quy định tại trường hợp 1 và trường hợp 2 và cũng không có di sản là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất được hướng dẫn tại trường hợp 3, nếu có tranh chấp thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân theo quy định của pháp luật về đất đai.
Để được cấp sổ đỏ lần đầu cho nhà đất xem tại: https://luatdaianphat.com/luat-dat-dai/quy-dinh-ve-cap-giay-chung-nhan-quyen-su-dung-dat-lan-dau.html
 
III. Liên hệ chi tiết
Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Hợp danh Đại An Phát về Không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có yêu cầu chia thừa kế được không? Để được tư vấn chi tiết, quý khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi. Công ty Luật Hợp Danh Đại An Phát rất hân hạnh được phục vụ quý khách!
CÔNG TY LUẬT HỢP DANH ĐẠI AN PHÁT
Địa chỉ: Phòng 12A – Chung cư viện Chiến lược khoa học Bộ Công An, đường Nguyễn Chánh, quận Cầu Giấy, Hà Nội.
Số điện thoại: 024.39.184.888/0973.509.636/0989.422.798
Email: luatdaianphat@gmail.com  
Trân trọng!
Gửi yêu cầu dịch vụ
Đăng ký dịch vụ ngay