Blue ocean

Gửi câu hỏi trực tuyến

Họ tên
Điện thoại
Email
Câu hỏi

CĂN CỨ TÒA ÁN TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN VÀ KHIẾU NẠI VIỆC TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT

17/08/2021 12:20

Trả lại đơn khởi kiện thực chất là việc Tòa án từ chối thụ lý yêu cầu của người khởi kiện, không giải quyết tranh chấp dân sự. Để có thể đảm bảo được quyền và lợi ích của người khởi kiện, việc nắm rõ các căn cứ để Tòa án trả lại đơn khởi kiện và thời hạn, quy trình khiếu nại việc trả lại đơn khởi kiện của Tòa án là vấn đề rất quan trọng. Pháp luật Việt Nam quy định về những vấn đề này như thế nào? Trong bài viết dưới đây luật Đại An Phát sẽ trả lời câu hỏi trên.

1. Cơ sở pháp lý

- Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;
- Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 điều 192 bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án.

2. Tư vấn của Luật sư

2.1. Các căn cứ Tòa án trả lại đơn khởi kiện

Khi xem xét thụ lý vụ án, Tòa án sẽ xem xét đơn khởi kiện cùng các chứng cứ, tài liệu gửi kèm và căn cứ vào quy định của pháp luật để đưa ra Thông báo thụ lý vụ án. Khoản 1 điều Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định các trường hợp thẩm phán  trả lại đơn kiện như sau:
“Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện trong các trường hợp sau đây:
a) Người khởi kiện không có quyền khởi kiện theo quy định tại Điều 186 và Điều 187 của Bộ luật này hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;
b) Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật.
Chưa có đủ điều kiện khởi kiện là trường hợp pháp luật có quy định về các điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó;
c) Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án mà Tòa án bác đơn yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu và theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại;
d) Hết thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 195 của Bộ luật này mà người khởi kiện không nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án, trừ trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc có trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng;
đ) Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án;
e) Người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Thẩm phán quy định tại khoản 2 Điều 193 của Bộ luật này.
Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.
Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện không ghi đầy đủ, cụ thể hoặc ghi không đúng tên, địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà không sửa chữa, bổ sung theo yêu cầu của Thẩm phán thì Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện;
g) Người khởi kiện rút đơn khởi kiện.”
Để công dân có thể nắm được rõ hơn các trường hợp sẽ bị trả lại đơn khởi kiện, để áp dụng đúng và thống nhất tại Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 đã hướng dẫn cụ thể 1 số trường hợp sau:
  • Về người không có quyền khởi kiện theo hướng dẫn tại điều 2 Nghị quyết 04/2017 là Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều 186, Điều 187 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • Chưa đủ điều kiện để khởi kiện theo hướng dẫn tại điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP: Điều kiện để khởi kiện áp dụng với một số tranh chấp, đó là yêu cầu về việc hòa giải ở cơ sở như hòa giải tại UBND xã/phường về việc tranh chấp ai là người sử dụng đất; những tranh chấp lao động phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động…
  • Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là trường hợp mà theo quy định của pháp luật thì các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác hoặc đang do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác giải quyết.
Ví dụ: Đối với các tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất khi chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc các giấy tờ quy định tại điều 100 LDD 2013 có quyền lựa chọn Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự hoặc Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 203 Luật đất đai năm 2013 để giải quyết tranh chấp. Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân đã nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền và cơ quan đó đang giải quyết tranh chấp thì vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
  • Cách xác định địa chỉ và Tòa án xử lý việc ghi địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được hướng dẫn cụ thể tại điều 6, điều 7 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP.
Đối với các trường hợp ở trên, khi bị Tòa án trả lại đơn người khởi kiện vẫn có quyền được khởi kiện lại khi đã không thuộc trường hợp bị trả lại đơn như đã có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, đã có đủ điều kiện thời kiện hoặc trường hợp quy định tại khoản 3 điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, hướng dẫn tại điều 7 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP.

2.2. Khiếu nại và giải quyết kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện

Khi Tòa án ra Văn bản trả lại đơn khởi kiện, người khởi kiện cần tập trung vào các căn cứ Tòa án đưa ra để đánh giá việc trả lại đơn của Tòa án có đúng quy định của pháp luật không. Trong trường hợp xác định việc trả lại đơn khởi kiện của Tòa án không đúng quy định của pháp luật, người khởi kiện có thể làm đơn khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện và việc khiếu nại sẽ được giải quyết theo quy định tại điều 194 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 như sau:
“1. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện, người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện.
2. Ngay sau khi nhận được khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phải phân công một Thẩm phán khác xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị. Phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự có khiếu nại; trường hợp đương sự vắng mặt thì Thẩm phán vẫn tiến hành phiên họp.
4. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc trả lại đơn khởi kiện, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và đương sự có khiếu nại tại phiên họp, Thẩm phán phải ra một trong các quyết định sau đây:
a) Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện và thông báo cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp;
b) Nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành việc thụ lý vụ án.
5. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định trả lời khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện của Thẩm phán, người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp xem xét, giải quyết.
6. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp phải ra một trong các quyết định sau đây:
a) Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện;
b) Yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành việc thụ lý vụ án.
Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị của Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp có hiệu lực thi hành và được gửi ngay cho người khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát đã kiến nghị và Tòa án đã ra quyết định trả lại đơn khởi kiện.
7. Trường hợp có căn cứ xác định quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp quy định tại khoản 6 Điều này có vi phạm pháp luật thì trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định, đương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao nếu quyết định bị khiếu nại, kiến nghị là của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao nếu quyết định bị khiếu nại, kiến nghị là của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao.
Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại của đương sự, kiến nghị của Viện kiểm sát thì Chánh án phải giải quyết. Quyết định của Chánh án là quyết định cuối cùng”
Qua quy định trên có thể thấy, người khởi kiện có thể khiếu nại 3 lần về việc trả lại đơn khởi kiện của Tòa án:
  • Lần 1: Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện, người khởi kiện có quyền khiếu nại với Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện. Chánh án Tòa án phân công Thẩm phán khác xem xét, giải quyết việc khiếu này;
  • Lần 2: Không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Thẩm phán tại khiếu nại lần 1, người khởi kiện khiếu nại đến Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp xem xét, giải quyết trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định trả lời khiếu nại tại lần 1;
  • Lần 3: Có căn cứ xác định quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp có vi phạm pháp luật thì trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 có quyền khiếu nại với Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao (nếu quyết định bị khiếu nại là của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh) hoặc với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao (nếu quyết định bị khiếu nại là của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao).
Vì vậy, quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao hoặc Chánh án Tòa án nhân dân tối cao là quyết định giải quyết cuối cùng.
Trong đơn khiếu nại về việc trả đơn khởi kiện của Tòa án, người khởi kiện cần phân tích về hình thức, nội dung đơn khởi kiện, yêu cầu khởi kiện, viện dẫn các quy định của pháp luật nội dung, tổ tung đề nghị Tòa án nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo để chứng minh việc khởi kiện của mình là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật, đồng thời yêu cầu Tòa án tiến hành việc thụ lý vụ án.
Trên đây là những nội dung liên quan đến vấn đề các căn cứ tòa án trả lại đơn khởi kiện và khiếu nại việc trả lại đơn khởi kiện theo quy định pháp luật. Để được tư vấn và hỗ trợ trực tiếp, vui lòng liên hệ với chúng tôi:
CÔNG TY LUẬT HỢP DANH ĐẠI AN PHÁT
Số điện thoại: 024.39.184.888/0973.509.636/0989.422.798
Email: luatdaianphat@gmail.com  
Trân trọng!
Gửi yêu cầu dịch vụ
Đăng ký dịch vụ ngay